Kiến trúc Hiện đại Hà nội: Di sản của một thời gian khó.

Các công trình di sản kiến trúc mang những giá trị văn hóa và nghệ thuật của một giai đoạn lịch sử nhất định, tạo dựng hình ảnh bản sắc riêng của một địa phương, khu vực. Nói đến di sản kiến trúc của Hà nội, ta thường nghĩ đến khu phố cổ Hàng Đào, Hàng Bạc của những mái nhà lô xô bình dị, những phố nghề đông đúc nhộn nhịp hàm chứa trong đó những nét sinh hoạt văn hoá đặc sắc của người xứ kinh kỳ. Hoặc khu phố Tây thời thuộc địa với những biệt thự sang trọng, công trình công cộng với lối kiến trúc cầu kì kiểu cách đến từ trời Tây. Cho đến tận bây giờ, các khối công trình kiến trúc đó vẫn là những nét đặt trưng tạo dựng nên một khuôn hình đô thị một thủa của một Hà nội hào hoa và thanh lịch. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đó, bên cạnh những hai khối kiến trúc từ lâu được nhìn nhận như những di sản kiến trúc của thành phố Hà nội, còn một khối các công trình kiến trúc nữa cũng đáng được xếp hạng như những công trình di sản: đó là các công trình kiến trúc hiện đại được xây dựng từ nửa sau của thế kỉ 20.

Phối cảnh khu nhà Ánh sáng ngoài bãi Phúc Xá của văn phòng Luyện Tiếp Đức thực hiện với phong trào Tự Lực Văn Đoàn.

Khởi nguồn từ châu Âu cuối thể kỉ 19, kiến trúc chủ nghĩa Hiện đại (Modernism) nhanh chóng lan ra toàn thế giới cùng với những ưu thế vượt trội của sức mạnh phương Tây đầu thế kỉ 20. Bằng việc tận dụng những tiến bộ của công nghiệp hoá với những kĩ thuật hiện đại, bỏ lại sau lưng gánh nặng của truyền thống cùng với sự sáng tạo một ngôn ngữ kiến trúc trừu tượng và đơn giản, tất cả được đặt trong lối tư duy gãy gọn và thực dụng, hướng tới một sự cải cách xã hội mạnh mẽ, kiến trúc Hiện đại được ưa chuộng và đã trở thành một trào lưu kiến trúc chủ đạo của thế kỉ 20. Với nhiều kiến trúc sư Âu-Mỹ, sự phổ quát của kiến trúc Hiện đại như một minh chứng cho sự ưu việt và sức mạnh của nền văn minh phương Tây. Nhưng từ khi du nhập Việt Nam vào những năm 30, kiến trúc Hiện đại đã được thêm một tầng ngữ nghĩa khác; đó là tinh thần dân tộc. Vào thời điểm đó, hai phong cách kiến trúc được người Pháp phổ biến ở Việt Nam giai đoạn đó là kiến trúc cổ điển phương Tây và kiến trúc Đông Dương. Theo đó, kiến trúc cổ điển phương Tây là sự thể hiện sức mạnh và uy quyền của kẻ thực dân lên xứ thuộc địa. Còn kiến trúc Đông dương là sự lai ghép triết chung giữa cái vỏ văn hoá phương Đông và nội dung phương Tây như một biểu hiện cho một chủ trương cộng tác Pháp – Việt đương thời. Tuy nhiên, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện, một trong số những kiến trúc sư đầu tiên tốt nghiệp trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đã lựa chọn con đường thứ ba. Thủ khoa tốt nghiệp, KTS Nguyễn Cao Luyện sang Pháp làm việc cho một trong số những người được mệnh danh là bậc thầy kiến trúc Hiện đại trên thế giới là Le Corbusier. Trở về Việt nam, kiến trúc sư Nguyễn Cao Luyện dứt khoát từ bỏ lối kiến trúc Đông dương như một sự luyến tiếc quá khứ, lẫn phong cách kiến trúc Cổ điển phương Tây như một áp đặt thực dân. Ông lựa chọn phong cách kiến trúc Hiện đại như một công cụ hữu hiệu để chắp cánh cho một tương lai, một tinh thần dân tộc quật cường. Những công trình của ông với những hình khối gãy gọn, mái bằng phẳng phiu như biệt thự số 65 Lý Thường Kiệt (nay là đại sứ quán Cuba) như một tuyên ngôn mạnh mẽ vượt lên trên những ràng buộc hình thức của kiến trúc đương thời. Bộ ba Nguyễn Cao Luyện – Hoàng Như Tiếp – Nguyễn Gia Đức tích cực tham gia vào các phong trào thiết kế nhà ở giá rẻ cho người Việt. Nổi bật nhất trong số đó phong trào Nhà ánh sáng – một phong trào vận động cải cách xã hội nổi bật thời điểm đó với mục đích cải thiện chất lượng sống cho người nghèo, xoá bỏ nhà ổ chuột, nâng cao điều kiện vệ sinh môi trường ở. Khu trại Ánh sáng ngoài bãi Phúc xá xây dựng giai đoạn 1933-1936 là minh chứng cho kết tinh của tinh thần Dân tộc mạnh mẽ, đặt trên nền tảng tư tưởng cải cách xã hội Hiện đại.

Khu nhà chính của Trường Đại học Bách Khoa

Hoà bình lập lại năm 1954, những công trình kiến trúc phục vụ đời sống quốc kế dân sinh nhanh chóng được xây dựng ở cả hai miền Nam Bắc. Trong bối cảnh đó, không chỉ đơn thuần phục vụ những nhu cầu quốc kế dân sinh thông thường của xã hội, các công trình kiến trúc được có một vai trò quan trọng mang tính biểu tượng; đó là sự khẳng định tầm nhìn hướng đến tương lai, thúc đẩy lòng tự tin, tinh thần và lòng tự hào dân tộc, khát vọng vươn lên hiện đại hoá của một quốc gia độc lập. Tinh thần dân tộc Hiện đại được truyền tải đến từng công trình kiến trúc được xây dựng ở giai đoạn này. Một trong số đó là cơ sở đào tạo giáo dục bậc cao đầu tiên của nước Việt nam Dân chủ Cộng hoà; trường Đại học Bách khoa Hà nội. Công trình này do Liên Xô giúp đỡ khởi công năm 1960, dựa trên một thiết kế mẫu điển hình của viện thiết kế Leningrad trước đó. (Một phiên bản khác của mẫu thiết kế điển hình này được xây dựng trước đó ở Myanmar là đại học kỹ thuật Rangoon).

Công trường xây dựng trường Đại học Bách khoa

Thoạt nhìn, vị trí xây dựng công trình trường Bách khoa có vẻ là một điều hiển nhiên, nằm liền kề trong khu vực trường đại học Đông dương do người Pháp lập quy hoạch và đã tiến hành xây dựng một vài công trình từ năm 1943. Tuy nhiên, nếu đặt tổng thể của trường Bách Khoa trong khu vực thì chúng ta mới hiểu hết được những ý nghĩa, tính biểu tượng mạnh mẽ và khát vọng sục sôi tinh thần dân tộc trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt của đất nước. Vào thời Pháp thuộc, con đường đất nối từ ô Cầu Dền đến khu Kim Liên vốn không có tên, chỉ được đánh số. Chỉ đến năm 1945, đường này được đổi tên thành đường Đại Cồ Việt. Vị trí xây dựng của trường đại học Bách khoa, được chính bộ trưởng bộ Giáo dục lúc đó là Nguyễn Văn Huyên lựa chọn vào năm 1960. Đây vốn là khu vực nghĩa trang của lính viễn chinh Bắc Phi của Pháp. Toà giảng đường chính năm trên đường Đại Cồ Việt, tên quốc hiệu của nước Việt nam sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 13 sứ quân, thống nhất vùng châu thổ Bắc sông Hồng. Điểm đặc biệt là trục chính của toà giảng đường chính năm 1960 trùng khít với trục trung tâm, dẫn đến cổng chính của công viên Thống Nhất xây dựng vào năm 1958. Trục này chạy qua đảo Hoà Bình nằm giữa công viên Thống Nhất. Lối vào chính của trường lúc đó nằm trên đường Giải Phóng, con đường mà vốn vào thời điểm đó mang tên rất thân thuộc; đường Nam Bộ. Giờ phút này, thế hệ chúng ta có lẽ khó lòng có thể hình dung ra được cảm giác xúc động và tinh thần tự hào dân tộc của người dân Thủ đô giai đoạn đó khi bước chân qua cổng chính công viên Thống Nhất, phóng tầm mắt qua đảo Hoà Bình, thấy giảng trường Đại học Bách khoa, biểu tượng của một tương lai rực rơ tươi sáng của một quốc gia thống nhất và hiện đại, được xây dựng trên tro tàn những kẻ xâm lược ngoại bang.

Phương án lăng chủ tịch Hồ Chí Minh của phía Việt Nam

Một công trình kiến trúc Hiện đại khác vô cùng đặc biệt của thủ đô Hà nội đó là lăng chủ tịch Hồ Chí Minh. Khởi công năm 1973, công trình này là kết quả của một cuộc thi kiến trúc rộng rãi với hàng chục phương án kiến trúc của người Việt nam cả trong và ngoài nước từ cuối năm 1969. Mặc dù tác giả của công trình là kiến trúc sư Liên Xô Garold Isakovich, những thực chất phương án xây dựng được dựa hình thành trên nền tảng với phương án giải nhất của kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Chân vào năm 1970. Dựa trên những chỉ đạo của bộ Chính trị về định hướng Dân tộc, Hiện đại, Trang nghiêm, Giản dị với các yêu cầu về vị trí lăng, độ cao đặt thi hài, hình thức đăng đối như kiến trúc truyền thống. Phương án xây dựng bên cạnh hình khối kiến trúc Hiện đại, tỉ lệ hài hoà sắc nét, thì dễ thấy phần thân lăng được cách điệu từ hình ảnh ngôi nhà dân gian truyền thống năm gian với hàng cột hiên và phần mái cách điệu mái tàu đao đình làng Việt.

Mặc dù không ít người cho rằng công trình chịu ảnh hưởng kiến trúc của lăng Lenin, nhưng thực chất, đây là một công trình kiến trúc thẫm đẫm nét văn hoá Việt Nam. Không ít lần phía Liên Xô đề nghị phía Việt nam chọn lựa hình thức kiến trúc khác, nhưng các kiến trúc sư Việt Nam cương quyết bảo lưu quan điểm về nét Dân tộc của công trình. Cuối cùng, kiến trúc sư Garold Isakovich chỉ chọn giải pháp thoả hiệp điều chỉnh tỉ lệ của công trình. Sau này, phía Liên Xô chỉ chỉnh lại hình dáng tỉ lệ bên ngoài cũng như thiết kế phần kỹ thuật bên trong. Có lẽ không nhiêu người biết, trong giai đoạn đó, chúng ta từng có đề xuất phương án xây dựng cung đại hội Diên Hồng và điện Văn Lang của chính phủ nằm hai bên lăng chủ tịch Hồ Chí Minh với đại lộ Lạc Hồng. Với mỗi người dân đất Việt, những cái tên Diên Hồng, Văn Lang, Lạc Hồng đều là những mốc son của kí ức dân tộc trong một lịch sử hào hùng chống ngoại xâm. Một chi tiết nhỏ mang tính biểu tượng cao là trong quá trình xây dựng phần ngầm của lăng, hàng trăm khối đất đá được đào lên. Khối lượng đất đá này được chuyển đến một khu đầm lầy, đất trũng khác ở phía tây Hà nội để tôn nền, và rồi không lâu sau đó, tại địa điểm này mọc lên một công trình chăm sóc sức khoẻ hàng đầu cho trẻ em Việt Nam do Thuỵ Điển viện trợ : Bệnh viện Nhi Thuỵ Điển.

Ga Hà nội

Trong 12 ngày đêm lịch sử tháng 12 năm 1972 của chiến dịch Điện Biên Phủ trên không, bom Mỹ đã đánh sập gian trung tâm của ga Hà nội, chia cắt nhà ga thành hai nửa Bắc Nam. Ngay trong năm 1973, việc dọn dẹp và phương án xây dựng lại ga được nhanh chóng tiến hành. Một cuộc thi kiến trúc được tổ chức và phương án kiến trúc của kiến trúc sư Hoàng Nghĩa Sang được lựa chọn. Sau một thời gian tập trung xây dựng, ngày 31/12/1976, tại đây khởi hành chuyến tàu Thống Nhất lịch sử kết nối hai miền Nam Bắc. Không chỉ là một công trình giao thông thuần tuý, kiến trúc của gian trung tâm nhà ga Hà nội mang ý nghĩa biểu tượng mạnh mẽ hơn khi hàn gắn hai cánh nhà Nam Bắc của một nhà ga bị chia cắt bởi chiến tranh. Một lần nữa, không phải ngẫu nhiên mà nét kiến trúc của Dân tộc được lựa chọn để gắn kết với phần mái vát cách điệu, cùng với ô chắn nắng lấy cảm hứng từ hoa văn dân tộc truyền thống trên mặt đứng công trình. Ngôn ngữ hình khối vuông văn đặc chắc của kiến trúc Hiện đại, phân tách rõ ràng với kiến trúc thuộc địa của hai phần nhà ga cũ như khẳng định thông điệp về một thời đại mới của Hoà bình và Thống nhất.

Thành phố của chúng ta còn nhiều, rất nhiều những công trình kiến trúc như những nhân chứng của một thời hào hùng, gian khổ mà trong sáng. Những công trình kiến trúc được ra đời trong một bối cảnh hạn hẹp thiếu thốn của một đất nước vừa bỏ lại sau lưng 30 năm chiến tranh khốc liệt và đang đối mặt với vô vàng khó khăn của một giai đoạn lịch sử mới. Nhưng vượt lên tất cả, những công trình đó là biểu hiện và thông điệp về một tình yêu dân tộc mãnh liệt, một tinh thần lạc quan, một khát khao cháy bỏng của những thế hệ người Việt Nam với về một tương lai độc lập, tự do và hạnh phúc.

Và phải chăng, đó là di sản vô giá dành lại cho các thế hệ đi sau?

KTS Nguyễn Mạnh Trí.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: